Đình chỉ thi hành án

26/03/2014 12:19:47

Thuật ngữ "đình chỉ" có nghĩa là chấm dứt, không tiếp tục một công việc nhất định. Trong thi hành án dân sự, khái niệm "đình chỉ thi hành án" được hiểu là việc cơ quan Thi hành án dân sự mà cụ thể là Thủ trưởng cơ quan bằng một quyết định cụ thể làm chấm dứt một quan hệ thi hành án cụ thể hay nói cách khác là chấm dứt vai trò của Chấp hành viên đối với việc thi hành án đó khi có một trong các căn cứ do pháp luật quy định.


Cần lưu ý, trong một số trường hợp, việc đình chỉ thi hành án chỉ làm chấm dứt một quan hệ pháp luật thi hành án mà không làm thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ đã được ấn định trong Bản án, quyết định.

Về cơ sở pháp lý, hiện nay các căn cứ để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định đình chỉ thi hành án được quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự:

"1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế;

b) Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế;

c) Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;

d) Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ;

đ) Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác;

e) Có quyết định miễn hoặc giảm một phần nghĩa vụ thi hành án;

g) Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án;

h) Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã thành niên.

2. Thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ đình chỉ thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều này."

Theo quy định tại Điều 50  Luật Thi hành án dân sự thì việc ra quyết định đình chỉ thi hành án khi có một trong các căn cứ đã được quy định là trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, tuy nhiên có những vụ việc do Chấp hành viên khác tổ chức thi hành thì vấn đề đặt ra là Chấp hành viên đó phải có trách nhiệm tham mưu, đề xuất với Thủ trưởng để ban hành quyết định đình chỉ thi hành án đúng với thời hạn đã được quy định là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ đình chỉ. Tuy nhiên, để việc tham mưu được hiệu quả và đúng quy định, đòi hỏi Chấp hành viên phải nắm chắc các quy định của pháp luật liên quan để làm tốt các công đoạn xử lý thông tin thu thập được, trước khi đề xuất đình chỉ thi hành án. Căn cứ đề đình chỉ thi hành án:

Thứ nhất, người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế

Trong căn cứ thứ nhất này cần phân tích, mổ xẻ sẽ thấy rõ hai trường hợp khác nhau:

+/ Người phải thi hành án chết không để lại di sản

Đối với cả các nghĩa vụ có thể chuyển giao hay không thể chuyển giao cho người khác, chỉ cần xác định được người phải thi hành án đã chết (về mặt pháp lý nhất thiết phải có giấy chứng tử của UBND cấp xã nơi người phải thi hành án chết cấp) mà không có di sản để lại thì hồ sơ thi hành án chỉ cần thu thập được giấy chứng tử và biên bản xác minh tài sản của Chấp hành viên là hoàn toàn có đủ căn cứ ra quyết định đình chỉ thi hành án.

+/ Nghĩa vụ của người phải thi hành án theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế theo quy định của pháp luật

Trong trường hợp này, đặc thù của loại nghĩa vụ của người phải thi hành án là được pháp luật quy định nghĩa vụ đó chỉ gắn với người phải thi hành án mà không ai được thực hiện thay vì vậy dù người phải thi hành án chết có để lại di sản đi nữa thì cũng không có giá trị gì, cơ quan Thi hành án dân sự hoàn toàn có đủ căn cứ để ra quyết định đình chỉ thi hành án. Tuy nhiên, để tìm hiểu và thống kê được hết các loại nghĩa vụ mà pháp luật quy định không được chuyển giao cho người khác không phải là điều dễ dàng, tôi chỉ xin nêu ra đây một quy định liên quan đến nghĩa vụ mà các cơ quan Thi hành án thường xuyên phải tổ chức thi hành đó là nghĩa vụ cấp dưỡng.

Khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"... nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác."

Thứ hai, người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế

Đối với căn cứ này cũng bao gồm hai trường hợp:

+/ Pháp luật đã có quy định quyền và lợi ích của người được thi hành án theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người khác

Tương tự như quy định ở trên, ở đây là trường hợp quyền và lợi ích chỉ được trao cho một người nhất định, người khác không thể thụ hưởng thay khi người đó chết đi. Trong quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình thì khi người được cấp dưỡng chết thì quyền được cấp dưỡng cũng mất và quan hệ cấp dưỡng cũng sẽ chấm dứt.

+/ Quyền và lợi ích của người được thi hành án có thể chuyển giao cho người khác nhưng lại không có người thừa kế thụ hưởng quyền này

Để đình chỉ thi hành án thuộc trường hợp này, cần phải xác định rõ có hay không có những người thừa kế theo quy định tại Chương 23 và 24 Bộ luật Dân sự

Thứ ba, đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba

+/ Đương sự có thoả thuận bằng văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba

Bản chất đây là một trường hợp thoả thuận trong thi hành án dân sự nên nội dung và hình thức thoả thuận cũng phải tuân thủ các quy định chung về thoả thuận thi hành án.

+/ Người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan Thi hành án không tiếp tục tổ chức thi hành nữa, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba

Cũng tương tự như trong trường hợp trên, nhưng ở đây chỉ cần ý kiến đơn phương bằng văn bản của người được thi hành án mà không cần phải là ý kiến thống nhất của cả hai bên đương sự. 

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7: 1900.6190 - 1900.6212

Thứ tư, Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ

Đối với Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật (hoặc bản án, quyết định sơ thẩm được đưa ra thi hành ngay theo quy định tại khoản 2 Điều 2  Luật Thi hành án dân sự) và bản án, quyết định phúc thẩm, cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành mà có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì nếu bản án chưa được thi hành xong một phần hoặc toàn bộ, thông thường kèm theo Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ có nội dung tạm đình chỉ thi hành án và khi đó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 49  Luật Thi hành án dân sự. Sau khi có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm quyết định huỷ một phần hay toàn bộ bản án mà cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành thì Thủ trưởng cơ quan Thi hành án sẽ áp dụng căn cứ nêu trên để ra quyết định đình chỉ thi hành án.

Thứ năm, người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác

Trường hợp này gần tương tự trường hợp người phải thi hành án là cá nhân chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người khác. Điểm khác biệt ở đây có thể thấy trong căn cứ thứ năm này bao gồm 3 điều kiện khác nhau mà phải thoả mãn đủ cả ba điều kiện đó thì cơ quan Thi hành án mới có thể đình chỉ thi hành án, bao gồm:

+/ Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể

Việc giải thể đối với tổ chức và xác định khi nào thì tổ chức được coi là giải thể được thực hiện theo các quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động hoặc tại Điều lệ hoạt động của chính tổ chức đó. Khi tổ chức thi hành án đối với trường hợp này, Chấp hành viên cần nghiên cứu các quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật Các tổ chức tín dụng... và điều lệ của tổ chức đó để xác định và thu thập căn cứ chứng minh tổ chức đó đã bị giải thể. Ngoài ra, Chấp hành viên cũng có thể thu thập tại các cơ quan quản lý hoạt động của các tổ chức đó như phòng Tài chính - kế hoạch, Sở kế hoạch - đầu tư hoặc cơ quan quản lý cấp trên...

+/ Tổ chức sau khi đã giải thể không còn tài sản

Thông thường, trong quyết định hoặc thông báo giải thể, tổ chức bị giải thể bao giờ cũng có kế hoạch để xử lý các khoản nợ. Chấp hành viên cần nhanh nhạy trong việc nắm bắt kịp thời các thông tin này và liên hệ trực tiếp với bộ phận phụ trách giải quyết nợ của tổ chức đó để có thể giải quyết nghĩa vụ mà tổ chức đó phải thực hiện theo bản án, quyết định hoặc xác minh về các tài sản của tổ chức đó sau khi giải thể để làm căn cứ xử lý tiếp theo.

+/ Nghĩa vụ của tổ chức đã bị giải thể theo quy định của pháp luật không được chuyển giao cho tổ chức khác

Tuỳ thuộc vào từng loại nghĩa vụ cụ thể theo Bản án, quyết định để Chấp hành viên xác định nghĩa vụ đó có thể được chuyển giao cho tổ chức khác thực hiện hay không hoặc cũng cần phải xác định có tổ chức nào có thể tiếp nhận nghĩa vụ của tổ chức đã bị giải thể hay không. Nếu nghĩa vụ có thể chuyển giao và cũng có tổ chức được chuyển giao nghĩa vụ thì Chấp hành viên cần căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 54  Luật Thi hành án dân sự thực hiện chứ không thể đình chỉ thi hành án được.

Thứ sáu, có quyết định miễn hoặc giảm một phần nghĩa vụ thi hành án

Việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án hiện nay khi thực hiện căn cứ vào các quy định tại Nghị quyết số 24 của Quốc hội, Điều 61, 62, 63 và 64  Luật Thi hành án dân sự, hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 07, Điều 26 Nghị định số 58, Thông tư liên tịch số 10.

Thứ bảy, Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án

Căn cứ này áp dụng đối với người phải thi hành án là Doanh nghiệp và hợp tác xã, trình tự, thủ tục phá sản đối với các đối tượng này chịu sự điều chỉnh của Luật Phá sản năm 2004.

Toà án khi thụ lý yêu cầu tuyên bố phá sản không thể biết rằng doanh nghiệp, hợp tác xã đó đang phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định khác do đó không thể thông báo cho cơ quan Thi hành án dân sự biết. Vì vậy, kỹ năng khi thi hành án đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã Chấp hành viên cần tận dụng mọi nguồn và kênh thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã đang là đối tượng phải thi hành án. Có thể thông qua cơ quan quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã và cả đối với Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó để kịp thời nắm bắt thông tin sau đó xử lý theo đúng quy định.

Thứ tám, người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã thành niên

Về việc thi hành nghĩa vụ giao người chưa thành niên nuôi dưỡng có những đặc thù và khó khăn nhất định. Do đó,  Luật Thi hành án dân sự đã dự liệu đến tình huống việc kéo dài thời gian tổ chức thi hành nghĩa vụ giao người chưa thành niên cho người khác nuôi dưỡng là điều tất yếu và cơ chế để cơ quan Thi hành án dân sự có thể kết thúc việc thi hành án này là đình chỉ thi hành án khi người được giao nuôi dưỡng đã thành niên.

(Lượt xem : 169)
Dịch vụ nổi bật